BÓNG NGÀY QUA
Không khí lành lạnh của tiết đông mang theo bao kỷ niệm xa xăm lại len lén trở về xâm chiếm tâm hồn tôi. Mới ngày nào cũng mùa Noel này, chúng ta những chàng trai trẻ K.16 lên đường nhập ngũ tại trại Bạch Đằng Sàigòn, lòng đầy nhiệt huyết, chất ngất mộng hải hồ.Thế mà thấm thoắt đã 45 năm, đường đời trăm lối, vạn nẻo, cuộc đời bể dâu qua đi như áng mây trôi. Riêng mình ngồi đây đếm tháng ngày qua, lòng thấy bâng khuâng luyến tiếc những ngày tháng cũ.
Xin gửi tâm sự này qua bản nhạc:
Bóng ngày qua của Hoàng Giác do Mai Hương trình bày
Xin mời Anh Dùng Wa và quý bạn cùng tôi quay về thăm miền quê hương biển xanh cát trắng thân yêu với hàng thông reo vi vút qua bản nhạc:
Nha trang của Minh Kỳ do Hà Thanh – Phương Thảo& Ngọc Lễ trình bày
Tôi cũng xin nhắc nhớ lại những kỷ niệm thân thương trong những năm tháng chúng ta cùng chia ngọt sẻ bùi tại TTHL/ HQ/ NT qua bài viết :
“ĐỆ NHỊ BẮC GIẢI KHẤT CÁI BANG”
Bài này tôi đã viết sau kỳ họp khoá năm 1994 và đã được đang trên nội san Đệ Nhị Bắc Giải tháng 11/1994.
Đệ NHỊ BẮC GIẢI KHẤT CÁI BANG.
Khoá 16.HQ chúng ta chung sống với nhau trong quân trường chỉ non hai năm mà thật nhiều kỷ niệm.
Gần ba mươi năm qua, kỷ niệm ẩn khuất đâu đó trong tận cùng của tiềm thức. Ngày họp khóa vừa qua ở Cali đã như làn gió mạnh mở toang cánh cửa dĩ vãng, thổi tung lớp bụi thời gian, gợi nhớ một số hình ảnh đặc biệt của một số bạn, nhất là những bạn thuộc Khất Cái Bang. Lung Gìa tôi vội chép lại để góp vui cùng các bạn.
Ngày chúng ta nhập quân trường, doanh trại vừa bị pháo kích đổ nát tan hoang . Một số anh em chúng ta nằm ngủ không giường, tắm giặt thiếu nước, lại bị đàn anh quay “ Huấn nhục “ liên miên, ăn không kịp nhai, chạy không kịp thở, ngủ đứng, ngủ ngồi, mồ hôi nhễ nhãi hòa lẫn với cát bụi thật là khổ nhục trăm bề!
Mỗi buổi chiều, sau giờ học tập, 130 tên quay quần quanh giếng nước cạn, nón sắt làm gầu đụng nhau lốp cốp. Tên nào lanh lẹ và “Bá họng” như Hạnh Cán Vá, Quan Gấu, Thụ Trâu Điên, hay cao giò như Hải Ngựa, Tèo, Hi, Cương Xi Ta, Sài Cò Hương, Nguyên Xệ, Hoa Gìa Khú, hoặc vai u thịt bắp như Đồng Heo, Liêu Quyền, Tiến Đại Hàn, Sinh Trọ Trẹ, Thông Trâu, Tân Gà Tây, Khai Xích Lô, Hùng Vều, Cân Thịt Chó v.v… là lợi thế hơn các bạn khác, nhưng giỏi lắm cũng chỉ lấy được bốn gầu nước. Những tên thước tấc khiêm nhường như Đô KIến, Huệ Cá Trê, Quang Nhóc, Minh Lùn, Phi Nhô, Tâm Con, Tuân lật Đật, v.v…, cố chen chân lắm mới dành được hai gầu mà chưa bị đè bẹp đã là may lắm rồi. Còn cỡ gìa như Trị Gìa Khú Đế, Dùng Răng Vàng, hoặc hiền như Tâm Đít Zoi, Xu Hào, các cụ Ngọc Đảnh, Văn Ngân, Tài Nghĩa, Công Trứ, Thầy Thuốc Bắc họ Tạ, rồi đến cái giới lù đù như bản mỗ thì biết thân biết phận không giám xông pha chiến trường, chờ mãi mới lấy được một gầu. Đến phiên Hồ Lãng Đại Nhân bao chót đủng đỉnh tà tà ra đến giếng múc lên chỉ còn vơi nửa gầu nước pha với cát sỏi!
Ấy! Hồ Lãng Đại Nhân vốn thấm nhuần triết lý Vô Vi của Lão Tử nên mặc cho thiên hạ đua chen, ta đây vẫn bình chân như vại, không tắm cũng chẳng chết, không giặt cũng chẳng hề hấn gì. Bởi thế Đại Nhân được các bạn tôn làm Chưởng môn của Khất Cái Bang.
Khất Cái Bang hồi đó danh trấn giang hồ với bốn tay Đầu Lãnh:
Nhất LÃNG- Nhì LANG- Tam QUANG- Tứ QUẮN ( Quéo )
Đại sư huynh, nhị sư huynh và tứ sư đệ đã lần lượt đến Mỹ. Chỉ còn tam sư đệ Lê duy Quang tự là Quang Gù hay Quang Hôi tìm về ẩn náu đât Nha Thành không biết đến thuở nào mới được tái ngộ cùng các sư huynh đệ. Ngày còn ở quân trường, Lung mỗ không được biết nhiều giai thoại về Quang hôi, nên ở đây chỉ xin nhắc lại những kỷ niệm vui về ba vị “ Trưởng lão Cái Bang” mà Lung mỗ từng có nhiều dịp thân thiết .
Thuở xưa, Hồng Thất Công Bang Chủ, ngoài quân áo rách rưới với bị, gậy, lại còn kè kè môt hồ lô rượu nữa. Hồ Lãng Đại Nhân thiếu hồ lô rượu, tự thấy mình không theo được gương tiền nhân nên nhường ngôi chưởng môn lại cho Lang Sư Đệ, vốn là đệ tử chân truyền của thần Lưu Linh , được bạn bè gọi nôm na là Cụ Lang Saỵ.
Cụ Lang Say với Lung Gìa mỗ là bạn cố tri, có một thời ở chung phòng. Cái giường của cụ giống như cái sạp bán đồ lạc -xon: khăn vớ, quần áo, giây nịt để ngổn ngang, cái treo đầu giường, cá dập dưới gối, cái nhét dưới chăn. Gầm giường thì giầy, dép, gầu múc nước, bàn chải giặt, xà bông, lỉnh kỉnh, ngổn ngang đủ thứ. Còn cái tủ cá nhân, thỉnh thoảng cụ mở ra, tôi liếc mắt vô thấy từng búi quần áo và linh tinh trăm thứ loạn xà ngầu trông giống như một mớ bòng bong, tôi thắc mắc chẳng biết cụ có giấu xị nào trong đó không? Mỗi khi có thanh tra, cụ thường lính quýnh lo dọn dẹp đồ “lạc- xon” và thanh toán giấu bớt các mớ bòng bong nên tôi phải xáp vô xếp đặt tủ giùm cụ cho có ngăn có nắp. Sau ngày ra trường, cụ Lang và tôi vẫn nhớ đến nhau qua cái tình bạn đơn sơ đó.
Cách đây ít năm, tôi được gặp lại Lang Say khi cụ mới đến Hoa Kỳ. Nắm bàn tay gầy guộc của người bạn năm xưa, nhìn thân hình tiều tụy, hàm răng chiếc còn chiếc mất, tôi tự hỏi:” Bạn hiền của tôi đây sao?” Chưa kịp thăm hỏi, cụ Lang đã co giò chạỵ. Dùng La Mã kịp níu lại hỏi cụ chạy đi đâu vậy? Cụ trả lời :” Đi kiếm mấy xị về mình lai rai .Thật không hổ danh! Sau bao năm sống trong t ù cải tạo, cụ vẫn chưa dứt bỏ được cái hồ lô.
Mới đây cụ đưa gia đình đi kinh lý Hiu-Tân. Gặp lại cụ, tôi mừng vì thấy cụ lấy lại được phong độ thuở xưa: đẹp “chai “, mập trắng và có nguyên một hàm răng mới. Trước mặt phu nhân và bằng hữu, cụ tuyên bố sẽ nhường cái hồ lô rượu cho đám hậu sinh, còn bị rách và gậy “Đả Cẩu” phải giữ lại để đi theo Quéo sư đệ.
Thật đúng là cái duyên tiền định: Đệ Nhị Lang sư huynh và Đệ Tứ Quéo sư đệ có một thời ở chung phòng với bản mỗ thuở xưa.
Quéo sư dệ có cái tật đáng yêu là khoái ngủ lắm. Bất kể thời tiết nóng hay lạnh, lúc nào cụ cũng cuộn mình trong chăn giống như con sâu. Cụ lại theo đúng giới luật của Bang Khất Cái do Hồ Lãng Đại Nhân truyền dạy: “Việc tắm giặt phải hạn chế để giữ nguyên vẹn bản chất tinh túy của con người “. Thế nên chẳng biết tự bao giờ, cụ Quéo đeo thêm cái bệnh … “Lác “.
Với tình trạng vệ sinh thiếu thốn của quân trường, hàng tuần lại được tẩm bổ bằng thịt trâu gìa, có lẽ không mấy ai trong chúng ta thoát được bệnh lác. Lác có nhiều loại: nào là lác cốm, lác vòng, lác đồng tiền, lác nội (những chỗ kín), lác ngoại (trên mặt mũi). Bịnh lác nặng nhẹ tùy theo cách giữ gìn và trị liệu của mồi người.
Có nhiều bạn trị lác nội mà không ai biết đến. Lại có những bạn không tài nào giấu nổi bệnh lác của mình vì đã tiến đến tình trạng lác ngoại rồi. Hai "đại quan" nổi tiếng về lác ngoại là Thuận Lác và Tâm Lác. Thuận Lác có những đồng tiền trên trán và má như những trang sức cần thiết cho khuôn mặt khá “bô chai” của chàng trong những lần đi bờ nhẩy nhót bay bướm tại các vũ trường ở Nha Thành, làm bà xã ghen loạn cả lên. Anh chàng này thuộc loại lỳ có hạng: lác lan ra khắp mặt mà cũng không màng chữa trị. Ngược lại , Tâm lác là một chàng thanh niên chưa vợ , lại còn “ bô chai” hơn Thuận Lác một bực với tướng người cao ráo trông thật là “nốp” trong bộ tiểu lễ mầu trắng của Hải Quân. Mỗi lần đứng chuyện trò cùng các bạn, chàng thường “ khoan thai “ cho tay vào trong quần làm như thể sửa lại nếp áo cho thẳng, hoặc lục lọi, tìm mãi cái gì mà không thấy, rồi lại đưa tay lên mặt mũi, vuốt vuốt mấy cái đồng tiền nho nhỏ ra dáng nghĩ ngợi trầm tư lắm.
Riêng Quéo sư đệ thì dù bị lác nội nhưng cả phòng Bêta 4 và những phòng kế cận đều biết. Mỗi buổi tối, khi tiếng kèn báo giờ đi ngủ trổi lên, đèn trong phòng đều phải tắt. Quéo ta liền lột xác trở về tình trạng nguyên thủy của loài người. Chàng ta liền mở bị lấy thần dược “ Ông gìa chống gậy “để công phá thành trì lác đang đắp mô ở những nơi thâm sơn hiểm hóc. Thần dược tấn công khá mạnh khiến Quéo chịu không thấu , nhẩy tưng tưng, tay thì cầm quạt phất chưởng phành phạch, miệng thì đọc thần chú, hô phong hoán vũ để phù trợ . Gìa này tai hễnh hãng nên chỉ nghe được mấy tiếng xuýt xoa, hít hà, và mấy tiếng rên “Đã qúa! Đã qúa!”
Cứ thế, mỗi buổi tối , tiếng kèn báo giờ đi ngủ trổi lên, kéo lê thê, âm hưởng nghe mang máng như:
“ Bà gìa!...Bà gìa!...Quan lớn cũng gi…i…à…”
“ Bà gìa!...Bà gìa!...Quan lớn cũng gi…i…à…Chứ…ứ…ứ… Sa…a…o…!”
Rồi sau tiếng kèn, đèn tắt, lại tới tiếng hít hà xuyt xoa, kèm thêm mấy tiếng rên “Đã qúa! Đã qúa!” của Quéo. Tất cả dần dần trở thành những âm thanh quen thuộc ru tôi vào giấc ngủ êm đềm sau một ngày học tập mỏi mệt.
Sáng hôm sau, tiếng kèn báo thức hối thúc câp bách:
“ Con bò kéo xe! Con bò kéo xe! Cái con bò xe ké…é…o! ”
“Con bò kéo xe! Con bò kéo xe! Tí Te Tò! Tò te…e…e!”
Hồi kèn lập lại ba lần như thế, mọi người tung chăn nhẩy khỏi giường để chuẩn bị cho một ngày mới. Riêng Quéo ta vẫn nằm yên co rút như con sâu. Có một hôm Thượng sĩ Chấn đi kiểm soát đến đánh thức, chàng vẫn cuốn chăn ngủ kỹ. Giận quá, Thượng sĩ Chấn cãm chăn giựt tung ra thì : Ô hô! A ha! Lòi ra Quéo ta tồng ngồng!
Lối sống của Tứ sư đệ phản ảnh một bản chất mộc mạc. Đối với anh em cùng khoá, Quéo thật hiền hoà, nhường nhịn và dễ mến. Nhưng đối với khoá đàn em, Quéo lại là một hung thần, là một trong những Đao phủ thủ đáng sợ nhất, bởi vì Quéo rất nhiệt thành trong việc “dậy dỗ đàn em”.
Ngoài ra Quéo còn là một bưu tín viên cần mẫn của khoá16 nữa cơ đấy. Bích Sữa đặt tên cho Bưu tín viên là “ Ông Le Lưỡi “ ( vì nhiệm vụ, đôi khi ông phải le lưỡi liếm cò ). Mỗi lần thấy bóng Quéo sư đệ đeo bị thư về đến đầu dẫy Alpha là bạn bè đến bu quanh níu kéo. Kẻ có thư thì hớn hở nhẩy tưng tưng như con nít được kẹo, kẻ không có thì mặt xìu như cái bánh bao chiều.
Nhờ có “Ông Le Lưỡi “mang tin đến mà nhiều cặp tình nhân nên duyên thành nợ, sắt chì hòa hợp đúc ra từng bầy cua con Bắc Giải. Thế thì qúy bạn và qúy chị nào mang ơn Quéo sư đệ thì hãy mau mau thỉnh chàng về phụng dưỡng để chàng bớt cô đơn…
Riêng Lung Gìa mỗ, cứ tưởng phen này về họp khoá thế nào cũng được tái ngộ những bạn cố tri, nhất là các vua Lác và các trưởng lão Bang Khất Cái ngày xưa để hàn huyên cho bõ những năm trường xa cách. Nào ngờ các vua cũng như các trưởng lão đều vắng bóng, lòng Lung Gìa càng ngậm ngùi thương nhớ hơn. Thôi đành viết đại vài dòng nhắc lại chuyện xưa với những kỷ niệm thân thương góp tếu cho khuây nỗi buồn tuổi đời bóng xế, mong các bạn đừng vì thế mà hờn dỗi Lung Gìa mỗ nhé!
Thân chúc qúy bạn và gia đình được an lành và nhiều hạnh phúc.
Ninh thế Lung
November 1994